Xử lý sự cố máy dừng là chỗ nhiều xưởng mất thời gian hơn họ nghĩ. Máy dừng, người đứng máy chờ, ai đó gọi điện, tổ trưởng đi tìm thợ bảo trì. Máy chạy lại và ca làm việc trôi tiếp.
Cuối tháng, không ai nói chắc được máy đó đã dừng bao nhiêu lần, mỗi lần chờ bao lâu mới có người đến, và vì sao nó cứ dừng. Các lần dừng là có thật, nhưng dấu vết của chúng thì không còn.
Vì sao xử lý sự cố máy dừng hay bị trôi
Trong khung quản trị hiện trường , một sự cố chỉ được coi là đã xử lý khi vòng xử lý được khép kín. Báo miệng làm vòng đó đứt ở ba chỗ: không rõ ai là người nhận, không ai biết chính xác lúc nào xong, và không ai ghi lại vì sao nó xảy ra.
Đây không phải chuyện người ở xưởng cẩu thả. Một lời nhắn miệng đi qua nhiều người, ai cũng đang bận việc của mình. Chính cách thiết kế quy trình, chứ không phải người đứng máy, quyết định một lần dừng có được theo đến cùng hay không.

Năm mốc khép vòng một lần máy dừng. Thời gian phản ứng và thời gian khắc phục là hai khoảng thời gian khác nhau, mỗi khoảng có nguyên nhân riêng.
Bốn dữ kiện mỗi lần dừng phải để lại
| Dữ kiện | Vì sao cần |
|---|---|
| Người nhận | Có một người chịu trách nhiệm từ lúc được gọi đến lúc máy chạy lại; sự cố không rơi vào khoảng giữa hai bộ phận |
| Giờ bắt đầu | Ghi đúng lúc máy dừng, không phải nhớ lại vào cuối ca |
| Giờ kết thúc | Chốt khi có người xác nhận máy đã chạy lại, để thời gian dừng có điểm kết thúc rõ ràng |
| Nguyên nhân | Chọn từ một danh mục ngắn, để sau này cộng dồn và so sánh được |
Bốn dữ kiện này là nguyên liệu cho mọi quyết định về sau: bố trí ai trực, giữ sẵn phụ tùng nào, đại tu máy nào.
Báo dừng có lý do, gọi đúng người
Trong xử lý sự cố máy dừng, không phải lần dừng nào cũng cần cùng một người. Máy hỏng cần thợ bảo trì, thiếu vật tư cần kho, nghi ngờ chất lượng cần người kiểm tra, chuyển đổi mã hàng cần thợ chỉnh máy. Khi lý do được chọn ngay lúc dừng, lời gọi đi thẳng đến đúng người nhận, không phải vòng qua tổ trưởng.
| Nhóm lý do dừng | Ai nhận | Khi nào đóng |
|---|---|---|
| Máy hỏng | Thợ bảo trì | Sửa xong và xác nhận chạy lại |
| Chờ vật tư | Kho, kế hoạch | Vật tư đã đến trạm |
| Nghi ngờ chất lượng | Kiểm soát chất lượng | Có quyết định chạy tiếp, chỉnh hay giữ hàng |
| Chuẩn bị, chuyển đổi | Thợ chỉnh máy, tổ trưởng | Ra sản phẩm đạt đầu tiên |
Danh mục lý do nên ngắn và dùng đúng ngôn ngữ của xưởng. Mười lý do rõ ràng mà người đứng máy thật sự dùng có giá trị hơn năm mươi lý do không ai tìm thấy.

Ví dụ: tại trạm, người đứng máy chạm chọn lỗi của máy (máy bị kẹt, quá nhiệt, tiếng ồn bất thường, bộ phận bị hỏng) thay vì gõ mô tả.
Có thêm hai quy tắc giúp lời gọi rõ ràng. Thứ nhất, một sự cố chỉ một lần gọi: người thứ hai báo cùng một lần dừng phải thấy ngay đã có người gọi thợ, gọi lúc nào. Thứ hai, máy vẫn chạy nhưng cần kiểm tra thì phải báo được mà không cần dừng sản xuất, để dấu hiệu bất thường được báo sớm, trước khi thành hỏng hẳn.

Ví dụ: trạm đang dừng hiện rõ ai đã gọi thợ bảo trì, gọi lúc nào, và nhắc chờ sửa xong hoặc báo cho quản lý.
Đo riêng thời gian phản ứng và thời gian khắc phục
Tổng thời gian dừng che đi hai vấn đề rất khác nhau. Thời gian phản ứng tính từ lúc máy dừng đến lúc đúng người có mặt tại máy. Thời gian khắc phục tính từ lúc đó đến lúc máy được xác nhận đã chạy lại.
Thời gian phản ứng dài là vấn đề tổ chức: ai trực, đang ở đâu, biết tin bằng cách nào. Thời gian khắc phục dài là vấn đề năng lực: tay nghề, phụ tùng, hướng dẫn sửa chữa, lịch sử của máy. Gộp chung hai khoảng này dễ dẫn đến cách chữa sai, chẳng hạn tuyển thêm thợ trong khi chỗ chậm thật là không ai báo cho thợ kịp lúc.
Điểm kết thúc của một lần dừng cũng cần người chịu trách nhiệm. Nếu ai cũng có thể tự xóa trạng thái dừng, số liệu sẽ ghi máy đang chạy trong khi nguyên nhân vẫn còn đó. Cách xử lý sự cố máy dừng tốt là để thợ bảo trì xác nhận đã sửa xong, còn máy chưa sửa được thì quản lý quyết định khi nào cho chạy lại.

Ví dụ: yêu cầu bảo trì liên kết với thiết bị, lệnh sản xuất, lệnh công đoạn, lý do và lần dừng máy; lịch sử lưu lại lúc chuyển sang Đã sửa xong và lúc trung tâm sản xuất chạy lại.
Một mục tiêu nội bộ đơn giản cho việc xử lý sự cố máy dừng sẽ có ích, ví dụ thợ có mặt tại máy trong vòng 10 phút khi máy hỏng (ví dụ minh họa). Con số cụ thể không quan trọng bằng việc đo cùng một cách mỗi lần và xem lại hằng tuần.
Tổng hợp lý do dừng để thấy nguyên nhân lặp lại
Từng lần dừng riêng lẻ trông như chuyện không may. Cộng dồn cả tháng, các lần dừng hiện ra một quy luật. Xếp lý do theo số giờ mất, theo cách của biểu đồ Pareto , thường cho thấy vài lý do gây ra phần lớn thời gian mất. Đây là một trong bảy công cụ quản lý chất lượng.

Ví dụ minh họa: hai lý do gây ra khoảng hai phần ba thời gian mất của một dây chuyền.
Để ý rằng cột lớn nhất trong ví dụ không phải là máy hỏng. Chờ vật tư là vấn đề của kế hoạch và kho, đội bảo trì không giải quyết được. Vì vậy lần dừng nào cũng cần ghi lý do, không riêng lần hỏng máy: danh sách lý do chỉ ra đúng bộ phận có thể cải tiến.
Thời gian dừng theo từng lý do cũng là phần làm giảm độ sẵn sàng (Availability) trong chỉ số OEE. Trong xử lý sự cố máy dừng, một buổi rà soát ngắn hằng tuần về ba lý do đứng đầu, mỗi lý do một hành động và một người chịu trách nhiệm, có tác dụng hơn một báo cáo tháng dài. Cách xử lý từng loại tổn thất được bàn trong bài downtime trong sản xuất là gì và cách giảm.

Ví dụ: danh mục lý do hỏng máy ngắn gọn, mỗi lý do gắn với một loại tổn thất để cộng dồn thời gian dừng.
Từ sửa khi hỏng sang bảo trì định kỳ và theo giờ chạy
Khi các lần dừng đã được ghi kèm nguyên nhân, doanh nghiệp thấy được lần hỏng nào lẽ ra tránh được. Đó là lúc chuyển một phần công việc từ sửa sau khi hỏng sang bảo dưỡng trước khi hỏng. Có ba cách phổ biến, và phần lớn nhà máy dùng kết hợp:
| Cách làm | Phù hợp khi | Cần gì |
|---|---|---|
| Sửa khi hỏng (khắc phục) | Hỏng thì sửa nhanh, rẻ, không làm dừng dây chuyền then chốt | Gọi nhanh, có sẵn phụ tùng |
| Định kỳ theo lịch | Hao mòn chủ yếu theo thời gian: bôi trơn, thay lọc, kiểm tra | Lịch bảo trì cho từng máy và nhắc trước mỗi lần |
| Theo giờ chạy | Hao mòn theo mức máy chạy, và tải thay đổi theo mùa vụ | Số giờ chạy, ước tính theo ca hoặc đọc từ máy |
Giờ chạy máy là chỗ nhiều xưởng dễ đặt mục tiêu quá cao. Đọc giờ chạy trực tiếp từ máy cần cổng dữ liệu hoặc cảm biến, mà mỗi đời máy lại khác nhau. Ước tính giờ chạy theo lịch ca, ví dụ 16 giờ mỗi ngày với hai ca (ví dụ minh họa), là đủ để bắt đầu, miễn mọi người biết đó là số ước tính. Cách lập kế hoạch được bàn trong bài lập kế hoạch bảo trì máy móc thiết bị.
Bảo trì phòng ngừa cũng có chi phí: giờ máy và phụ tùng thay trước khi hỏng. Dữ liệu về các lần dừng cho biết chỗ nào đáng làm. Máy hay hỏng, hỏng tốn kém, cùng một nguyên nhân là ứng viên tốt; máy ít khi hỏng thì sửa khi hỏng có thể vẫn hợp lý. Các loại bảo trì được so sánh trong bài bảo trì trong sản xuất.
MTBF và MTTR nói bằng ngôn ngữ đời thường
Hai chỉ số tóm tắt lịch sử hỏng hóc của một máy. Thời gian trung bình giữa hai lần hỏng ( MTBF ) trả lời: trung bình máy này chạy được bao lâu thì hỏng lần nữa? Thời gian sửa chữa trung bình (MTTR) trả lời: khi hỏng, trung bình mất bao lâu để đưa máy trở lại?

MTBF đo các khoảng máy chạy giữa hai lần hỏng; MTTR đo các khoảng bỏ ra để đưa máy trở lại.
Đọc cùng nhau, hai chỉ số chỉ ra những hành động khác nhau. MTBF ngắn thì cần phòng ngừa: bảo trì tốt hơn, điều kiện vận hành tốt hơn, hoặc thay hẳn bộ phận hay mòn. MTTR dài thì cần sửa nhanh hơn: bố trí trực, phụ tùng, hướng dẫn sửa chữa. Máy gặp cả hai là ứng viên để đại tu hoặc thay mới.
Cả hai con số chỉ đáng tin bằng dữ liệu mà khâu xử lý sự cố máy dừng ghi lại. Một năm chỉ có vài lần hỏng thì một lần sửa lâu cũng đủ làm số trung bình lệch nhiều. Hai chỉ số này phù hợp nhất để so sánh giữa các máy và theo dõi xu hướng, không nên coi là số chính xác tuyệt đối.
Công nghệ hỗ trợ xử lý sự cố máy dừng theo ba bậc
Bậc 1 - Số hóa việc báo và gọi
Người đứng máy báo dừng và lý do trên máy tính bảng, đúng người được gọi, lần dừng có giờ bắt đầu, giờ kết thúc và nguyên nhân. Riêng bậc này đã khép được phần lớn vòng xử lý.
Bậc 2 - Kết nối máy
Máy tự báo lúc dừng và số giờ chạy. Số liệu chính xác hơn, nhưng vẫn cần người cho biết lý do.
Bậc 3 - Phân tích và dự báo
Phân tích nguyên nhân lặp lại, xu hướng hỏng hóc và thời điểm bảo trì từ lịch sử các lần dừng đủ dài và đủ sạch.
Nên lên bậc 2 khi lý do dừng đã được ghi đều đặn và chỗ còn nghi ngờ chỉ là thời gian chính xác, hoặc khi một máy then chốt cần đọc giờ chạy thay vì ước tính. Xem thêm bài ứng dụng IoT trong sản xuất.
Sáu câu hỏi tự đánh giá cách xử lý sự cố máy dừng
Ai biết đầu tiên
Khi máy dừng, ai biết đầu tiên, và thợ bảo trì biết tin bằng cách nào?
Thời gian phản ứng
Có biết chính xác đến phút một máy dừng phải chờ bao lâu mới có đúng người đến không?
Lý do dừng
Mỗi lần dừng có được ghi lý do theo danh mục cố định, hay chỉ tả bằng lời, hoặc không ghi?
Đóng một lần dừng
Ai xác nhận máy đã thật sự chạy lại, và có phải ai cũng tự xóa được trạng thái dừng không?
Nguyên nhân lặp lại
Có kể ra được ba lý do làm mất nhiều giờ nhất tháng trước không?
Bảo trì
Máy nào được bảo trì theo kế hoạch, và kế hoạch đó có dựa trên lịch sử dừng của máy không?
Viindoo hỗ trợ xử lý sự cố máy dừng thế nào
Trong Viindoo, lần dừng được báo trên máy tính bảng Xưởng sản xuất bằng cách chọn lý do. Báo máy hỏng thì một chạm là dừng trung tâm sản xuất và tạo yêu cầu bảo trì; trạm chạy lại khi yêu cầu sửa xong được đóng, hoặc khi quản lý cho chạy lại. Phần đã có và chưa có:
| Cần gì | Trong Viindoo |
|---|---|
| Khép vòng một lần dừng | Đã có: thời gian dừng ghi theo lý do; chỉ kỹ thuật viên được giao hoặc quản lý bảo trì đóng được yêu cầu đang giữ máy dừng |
| Bảo trì theo kế hoạch | Đã có: bảo trì định kỳ theo lịch kèm nhắc trước; theo giờ chạy ước tính từ số giờ chạy trung bình mỗi ngày khai báo cho từng máy, không đọc từ máy |
| MTBF và MTTR | Đã có theo từng thiết bị, tính theo ngày, từ các yêu cầu sửa chữa đã hoàn thành |
| Leo thang và màn hình xưởng | Chưa có: không tự động báo lên cấp trên khi phản ứng chậm, không có màn hình Andon |
| Kết nối máy | Sẵn sàng tích hợp qua cổng API và webhook, thiết kế theo từng nhà máy |

Ví dụ: thẻ thiết bị cho thấy thời gian trung bình giữa hai lần hỏng, lần hỏng gần nhất và lần hỏng kế tiếp dự kiến, tính theo ngày từ các yêu cầu sửa chữa đã hoàn thành.
Câu hỏi thường gặp
Có, nếu báo dừng chỉ mất một hai lần chạm và giúp họ được hỗ trợ nhanh hơn. Nếu việc báo chỉ để phục vụ một báo cáo họ không bao giờ thấy, nó sẽ dần bị bỏ. Nên bắt đầu từ máy hỏng, nơi lợi ích cho người đứng máy rõ nhất.
Ban đầu không nên ghi tay. Thống nhất một ngưỡng, ví dụ năm phút (ví dụ minh họa), và ghi mọi lần dừng dài hơn ngưỡng đó. Các lần dừng rất ngắn nên để kết nối máy ghi về sau.
Với phần lớn máy thì đủ, miễn ước tính theo đúng lịch ca thực tế và được xem lại khi tải thay đổi. Máy then chốt có tải biến động mạnh thì đáng đầu tư đọc giờ chạy từ máy.
Chọn dây chuyền dừng nhiều nhất, thống nhất danh mục lý do ngắn và ai nhận lý do nào, rồi ghi mọi lần dừng trong một tháng. Biểu đồ Pareto đầu tiên về lý do dừng thường chỉ ra việc cần làm tiếp theo.
Muốn biết xưởng mình đang xử lý sự cố máy dừng ra sao? Hãy đặt lịch khảo sát hiện trạng xưởng cùng Viindoo: chúng tôi cùng bạn theo dõi vài lần dừng máy thật, từ lúc gọi đến lúc chạy lại, trước khi bàn đến phần mềm.
Bài tiếp theo trong loạt: chất lượng và truy xuất, bắt lỗi tại nguồn, truy được về gốc.
Bài viết liên quan
